1. Chủ động phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế
Nghị định quy định các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và cơ quan có liên quan, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế.
Theo đó, các cơ quan có trách nhiệm thường xuyên rà soát, đánh giá việc thực hiện quy định pháp luật; trao đổi, đối thoại với nhà đầu tư nước ngoài nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tránh phát sinh cách hiểu không thống nhất về chính sách, pháp luật; phối hợp giải quyết kịp thời phản ánh, kiến nghị, khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế.
Trường hợp nhận thấy phản ánh, kiến nghị, khiếu nại có nguy cơ phát sinh thành tranh chấp đầu tư quốc tế, cơ quan có liên quan phải kịp thời thông báo để phối hợp xử lý, phòng ngừa tranh chấp.
2. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký đầu tư
Một trong những nội dung đáng lưu ý của Nghị định là quy định về trách nhiệm của cơ quan đăng ký đầu tư trong phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế.
Trong quá trình thực hiện thủ tục đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài, cơ quan đăng ký đầu tư có trách nhiệm cung cấp thông tin về ngành, nghề, điều kiện đầu tư kinh doanh, điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật; kịp thời trao đổi, làm rõ các nội dung có ý kiến khác nhau trong quá trình xử lý hồ sơ.
Việc áp dụng pháp luật và giải quyết thủ tục đầu tư phải bảo đảm thống nhất, công khai, minh bạch, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục.
Cơ quan đăng ký đầu tư còn có trách nhiệm rà soát, đánh giá các yếu tố pháp lý liên quan đến nhà đầu tư, bao gồm lịch sử khiếu nại, tranh chấp có liên quan nếu có, để kịp thời nhận diện rủi ro pháp lý và thực hiện biện pháp phòng ngừa; đồng thời lưu trữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến quá trình giải quyết thủ tục đầu tư.
Các quy định này có liên quan trực tiếp đến nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện thủ tục đầu tư tại cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền, trong đó có trường hợp dự án được thực hiện tại khu chế xuất, khu công nghiệp.
3. Lưu ý đối với hoạt động xúc tiến đầu tư và thỏa thuận hợp tác
Nghị định quy định trong quá trình xúc tiến đầu tư, đàm phán và ký kết thỏa thuận hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức có liên quan phải rà soát các nội dung thuộc thẩm quyền của cơ quan khác hoặc có khả năng làm phát sinh nghĩa vụ của Nhà nước.
Không cam kết hoặc đưa vào thỏa thuận hợp tác các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư hoặc nội dung khác vượt thẩm quyền hoặc chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt nếu có nguy cơ dẫn đến tranh chấp đầu tư quốc tế.
Đáng lưu ý, Nghị định xác định thông tin, tài liệu giới thiệu, quảng bá trong hoạt động xúc tiến đầu tư chỉ mang tính tham khảo, không thay thế quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không tạo thành cam kết với nhà đầu tư nước ngoài.
Do đó, đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư trong khu chế xuất, khu công nghiệp, các thông tin về chính sách, ưu đãi, hỗ trợ được cung cấp trong hoạt động xúc tiến đầu tư cần được xem xét trên cơ sở quy định pháp luật và quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với từng dự án cụ thể.
4. Phản ánh, kiến nghị, khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài
Nghị định quy định nhà đầu tư nước ngoài có quyền gửi phản ánh, kiến nghị, khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và gửi trực tiếp đến Cổng thông tin quốc gia về đầu tư.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi nhận được phản ánh, kiến nghị, khiếu nại có trách nhiệm giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại và pháp luật có liên quan. Việc tiếp nhận thông tin qua Cổng thông tin quốc gia về đầu tư không thay thế thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp nội dung gửi qua Cổng không thuộc thẩm quyền giải quyết, trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan quản lý Cổng có trách nhiệm chuyển thông tin, hồ sơ, tài liệu kèm theo đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết.
Cơ quan có thẩm quyền sau khi tiếp nhận có trách nhiệm phối hợp giải quyết, cập nhật tình hình và kết quả giải quyết theo quy định.
Trường hợp vụ việc có dấu hiệu vi phạm hiệp định đầu tư, cam kết khác với nhà đầu tư nước ngoài hoặc có nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế, việc đánh giá rủi ro, phối hợp xử lý và báo cáo được thực hiện theo cơ chế quy định tại Nghị định.
5. Cơ chế phối hợp khi phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế
Nghị định quy định cơ chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế từ việc tiếp nhận văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài; xác định cơ quan chủ trì; xây dựng đánh giá ban đầu và chiến lược giải quyết vụ việc; lựa chọn luật sư, trọng tài viên, người làm chứng, chuyên gia; thu thập, cung cấp chứng cứ; tham gia phiên xét xử; hòa giải và tổ chức thực hiện bản án, phán quyết hoặc quyết định của cơ quan tài phán.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trường hợp xét thấy phù hợp, cơ quan chủ trì có thể đề xuất thực hiện hòa giải. Phương án hòa giải được xây dựng trên cơ sở đánh giá vụ việc, cơ sở pháp lý, điểm mạnh, điểm yếu của phía Việt Nam và biện pháp hòa giải cụ thể.
Đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài trong khu chế xuất, khu công nghiệp, các quy định nêu trên được áp dụng khi vụ việc đáp ứng phạm vi, điều kiện của tranh chấp đầu tư quốc tế theo Nghị định; không phải mọi khó khăn, vướng mắc hoặc tranh chấp phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp đều thuộc cơ chế này.
Hiệu lực và quy định chuyển tiếp
Nghị định số 323/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17/8/2026. Đối với các vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế phát sinh trước ngày 01/5/2026 mà chưa có bản án, phán quyết hoặc quyết định chung thẩm của cơ quan tài phán thì tiếp tục được giải quyết theo Nghị định này. Các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài đã được gửi trước ngày Nghị định có hiệu lực và đang trong quá trình giải quyết cũng tiếp tục được giải quyết theo quy định của Nghị định.
Nghị định số 323/2026/NĐ-CP tập trung hoàn thiện cơ chế phối hợp trong phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài trong khu chế xuất, khu công nghiệp, các nội dung có liên quan trực tiếp cần quan tâm chủ yếu gồm việc thực hiện thủ tục đầu tư, thông tin trong hoạt động xúc tiến đầu tư, cơ chế phản ánh, kiến nghị, khiếu nại và việc xử lý vụ việc có nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế.